-
Những năm gần đây, giới học giả chuyên nghiên cứu bí ẩn siêu nhiên ở châu Âu và Mỹ xôn xao bàn tán về các hiện tượng có liên quan đến “lỗ hổng thời gian” và “sự mất tích – tái hiện” một cách thần bí. Người ta cố gắng vận dụng mọi kiến thức để giải thích cho được những hiện tượng này.

ảnh minh họa
Ví dụ điển hình như sự trở về đầy bí của Smith và Coutts của tàu Titanic sau 80 năm (1912-1990 ) hiện tượng khoa học không phải hoang đường…
Hay như sự mất tích của 25 lính hải quân Mỹ khi chiến hạm Indiana Bolis bị đánh chìm từ năm 1945 và mãi 46 năm sau đó, người ta mới tìm thấy họ nhưng họ không hề thay đổi so với trước kia thậm chí cả râu tóc… cũng không dài thêm chút nào. Điều kinh ngac nhất là tất cả 25 người một mực khẳng định họ chỉ lênh đênh trên biển một ngày đêm, 46 năm tương đương với một ngày, điều gì đã xảy ra ?
Có thể họ đã bị đẩy vào một chiều không gian khác qua những lỗ hổng không gian. Vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, chưa có một học thuyết nào có sức thuyết phục vì chưa đưa ra được những chứng cứ xác thực.

Thế giới phản vật chất
Các nhà khoa học cho rằng lỗ hổng thời gian thực chất là thế giới phản vật chất đang tồn tại trong vũ trụ. Như vậy,trước tiên bạn phải hiểu “Phản vật chất” là gì. Vâng, như tên gọi của nó, “phản vật chất” là một khái niệm đối nghịch với vật chất – vật liệu chính tạo nên vũ trụ của chúng ta. Phản vật chất mới chỉ được khám phá ra trong thời gian gần đây, và sự tồn tại của nó cũng mới chỉ dừng ở mức độ lý thuyết và dựa vào công thức tổng năng lượng vật chất của Einstein.
Năm 1928, nhà vật lý học người Anh Paul A.M. Dirac đã xem xét lại biểu thức nổi tiếng của Einstein E = mc^2, ông cho rằng, Einstein đã không tính đến trường hợp m trong biểu thức này cũng có thể có giá trị âm. Biểu thức mới của Dirac: E= +/– mc^2 cho phép tính đến sự tồn tại của các hạt phản vật chất trong vũ trụ của chúng ta. Mỗi hạt phản vật chất có khối lượng tương đương với các hạt vật chất song hành cùng nó, nhưng tích điện trái dấu. Sau đây là một vài hạt phản vật chất đã được tìm ra ở thế kỷ 20: Positron ( trái dấu với Electron, được tìm ra bởi Carl Anderson vào năm 1932 ) và Anti-proton ( trái dấu với Proton, được tạo ra lần đầu tiên vào năm 1955 bởi các nhà nghiên cứu tại Berkeley Bevatron).
Khi các hạt vật chất và phản vật chất tác dụng với nhau dưới tác động của lực hấp dẫn, sẽ sinh ra một bức xạ thuần túy có khả năng di chuyển với tốc độ ánh sáng. Năng lượng được giải phóng và vụ nổ sẽ lớn gấp khoảng 10 tỷ lần khi so với các động cơ hóa học như oxy-hydro, mạnh hơn phản ứng hạt nhân đến hơn 1000 lần. . Lúc này, tác dụng “đổ vỡ” do thế giới vật chất và phản vật chất sinh ra sẽ tạo ra một nguồn năng lượng vô cùng lớn, tạo thành một áp lực tách đôi hai hệ thống. Theo đó, có thể thấy rằng mất tích chính là hiện tượng phát sinh khi hai hệ thống vật chất và phản vật chất tiếp cận ở mức độ cao nhất, sinh ra năng lượng tạo nên áp lực phân tách. Khi hiện tượng “đổ vỡ” kết thúc, trường lực hấp dẫn trở lại trạng thái ban đầu, hiện tượng tái hiện xảy ra.

Về nhân tạo, hiện nay, các nhà khoa học đã có phương pháp tạo ra các hạt phản proton, chính xác là đã có 9 hạt được tạo ra trong những thí nghiệm lần đầu, và mỗi hạt chỉ tồn tại trong khoảng thời gian là 40 nano giây. Đến năm 1998, CERN đã thúc đẩy quá trình này đến mức có thể tạo ra 2000 hạt mỗi giờ. Như vậy, mỗi năm, họ chỉ có thể tạo ra khoảng 1 phần một tỷ gram. Dễ hình dung hơn, lượng phản vật chất mà CERN tạo ra mỗi năm sẽ cung cấp đủ năng lượng để thắp sáng một bóng đèn 100W trong vòng… 3 giây. Chúng ta chỉ cần lượng phản vật chất khoảng 1 phần 1 triệu gram là đủ cho một chuyến du hành kéo dài 1 năm lên sao Hỏa. Và chúng ta cần đến hàng tấn phản proton mới mong tạo ra được một con tàu có khả năng du hành xuyên không gian và thời gian.
Tuy nhiên, sự tồn tại của các hạt phản vật chất trong vũ trụ là cực kỳ hiếm. Nếu lượng vật chất và phản vật chất trong vũ trụ là cân bằng nhau, chúng ta đã bị bóp vụn dưới sức ép tỏa ra từ phản ứng giữa chúng. Rất có khả năng là sau vụ nổ Big Bang, va đập giữa vật chất và phản vật chất đã tiêu hủy cả 2 thành phần này. Và vật chất là thứ giờ đây chiếm ưu thế tuyệt đối trong vũ trụ. Nhưng biết đâu trong vũ trụ bao la, những hạt phản vật chất tự nhiên vẫn còn tồn tại?
Hay sự biến động của nhân trái đất

Nhà bác học nổi tiếng của Nga, Nicolai Coroviacov cho rằng những sự việc mất tích bí ẩn đều liên quan đến việc thay đổi chu trình thời gian, chiều thứ tư. Giả thiết của Coroviacov cho rằng, nhân trái đất không nằm ở trung tâm của địa cầu, mà dưới tác động lực hấp dẫn của mặt trời, mặt trăng và các hành tinh khác nó bị kéo về phía chúng. Khi quay, nhân dường như “lăn” phía dưới lớp vỏ, gây ra dòng ngược của mắc-ma nằm giữa chúng, và như một hệ quả sẽ xuất hiện trường điện từ. Ngoài ra, do trục quay của hành tinh nghiêng nên nhân đi lên rồi đi xuống, mùa hè có mặt ở Bắc bán cầu, còn mùa đông thì ở Nam bán cầu. Vì lý do này xích đạo của nhân không trùng với xích đạo vỏ ngoài của Trái Đất, mà ở trên vĩ tuyến 28. Lòng dẫn của dòng mắc-ma nằm ở chính đây. Thời gian qua đi, nhân đập vào vỏ, gây ra chuyển động của lục địa, sự trôi của các cực từ trường và sự phun của núi lửa.
Coroviacov đã tiến hành thử nghiệm và “bố trí” xích đạo của nhân trái đất ở vĩ tuyến 28, chính trên chiều rộng này thiên nhiên đã giăng những cái bẫy bí ẩn của mình, bao gồm 5 bẫy về phía Bắc và 5 về phía Nam xích đạo Trái Đất. Nếu kết nối chúng bằng 5 đường thẳng, thì sẽ xuất hiện 2 ngũ giác đều. Ở các điểm trùng với các đỉnh của ngũ giác là những chiếc bẫy này. Điều đặc trong giả thiết của Coroviacov là một trong những cái bẫy này lại trùng với vùng biển Bắc Đại Tây dương, nơi đánh dấu sự trở lại của thuyền trưởng Smith, nơi chứa những bí ẩn mang tên “tam giác quỷ Bermuda”- nơi mà các con tàu và máy bay biến mất không dấu vết, nơi xuất hiện những con tàu ma…
Ngoài ra, trong cuộc tranh cãi giữa các nhà khoa học, nhiều giả thuyết khác cũng được đưa ra. Như thuyết “Thời gian đứng lại”, “Thời gian ngược”, ” và “Đóng cửa thời gian”. Trước mắt, quanh vấn đề “lỗ hổng thời gian” này còn nhiều ý kiến khác nhau. Chưa một học thuyết nào đủ sức thuyết phục vì chưa đưa ra được những chứng cứ xác thực. Qua đó, hiện tượng “mất tích rồi tái hiện” dường như vẫn còn là bí ẩn đang chờ con người tiếp tục tìm hiểu và khám phá
Theo xaluan

