Những thử nghiệm đi ngược với đạo đức của người hành nghề y bất ngờ mang đến các bước tiến mới trong y học.

Một người đàn ông Na Uy với triệu chứng của bệnh phong.
1. Chữa bệnh phong bằng thuốc gây dị thai
Bệnh phong hay hủi là một căn bệnh khiến cho da thịt người mắc bệnh thường phát nhọt, lở loét. Khi nặng hơn, vết thương lõm vào da thịt, lông mày rụng, mắt lộ ra, thanh quản bị lở nên giọng nói khàn.
Tình trạng mất cảm giác xuất hiện ở một vài bộ phận trên cơ thể do dây thần kinh bị nhiễm trùng. Sau đó các bắp thịt tiêu đi, gân cốt co làm hai bàn tay co quắp. Ở mức độ nặng, ngón tay và ngón chân bệnh nhân sẽ rụng dần.
Thêm vào đó, những người không may mắc phải căn bệnh này sẽ dễ dàng bị suy nhược do bị mọi người kỳ thị cũng như các cơn đau kéo dài hàng đêm. Hiện nay, bệnh phong đã có thể chữa trị dứt điểm nhưng trong quá khứ, đó thật sự là một căn bệnh đáng sợ.
Vào năm 1964, bác sĩ Jacob Sheskin được giới thiệu để chữa trị cho một bệnh nhân xấu số, nhiệm vụ của ông là giúp người này có được một giấc ngủ ngon vào mỗi đêm.
Thứ thuốc mà vị bác sĩ này kê cho bệnh nhân là thuốc an thần thalidomide - một loại thuốc có tác dụng phụ rất đáng sợ là gây dị thai.

Bác sĩ Jacob Sheskin (người mặc áo vest xám ở giữa) và các nhân viên của mình.
Tuy nhiên thật bất ngờ, ba ngày kể từ sau khi bắt đầu uống thuốc thalidomide, bệnh nhân đó không chỉ ngủ ngon hơn mà những nốt phong cũng mất hẳn.
Bằng việc đi ngược lại những quy định và đạo đức nghề nghiệp mà bác sĩ Sheskin đã vô tình tìm ra cách trị bệnh phong vẫn còn dùng đến ngày nay. Tất nhiên, những loại thuốc ngày nay đã không còn tác dụng phụ của thalidomide ngày nào.
2. Tìm ra quá trình tiêu hóa bằng thử nghiệm trên bệnh nhân
Năm 1822, một người đàn ông tên Alexis St. Martin bị bắn vào bụng bằng một khẩu súng hỏa mai từ khoảng cách hơn 1m, hậu quả để lại là một lỗ to bằng nắm tay, làm ảnh hưởng đến một phần phổi, hai xương sườn và dạ dày. Thậm chí lỗ thủng để lộ rõ cả nội tạng bên trong người nạn nhân.
Hình vẽ vết thương của Alexis St. Martin.
Bác sĩ William Beaumont khi đó đã làm hết tất cả mọi cách để “vá” lại vết thương lớn này nhưng thất bại hoàn toàn. Ông chỉ có thể tạm che vết thương lại bằng băng gạc và keo y tế.
Vào khoảng tháng 8/1825, bác sĩ Beaumont trở thành người đầu tiên quan sát khả năng tiêu hóa của con người bên trong dạ dày. Ông cột một mảnh thức ăn nhỏ như thịt bò, thịt gà, thịt lợn và rau vào đầu một sợi dây vải rồi cho trực tiếp vào dạ dày thông qua vết thương cũ của Alexis.
Từ đó, ông phát hiện ra trong dạ dày có một chất dịch có khả năng giúp tiêu hóa thức ăn từ từ, đó là dung dịch axit hydrochloric. Ông còn phát hiện ra một điều là nhiệt độ bên trong dạ dày của chúng ta lên đến khoảng 37,8 độ C.
Chân dung bác sĩ Beaumont.
Nếu là hiện tại, Beaumont đã có thể bị tước giấy phép hành nghề cũng như bị bỏ tù vì dám thử nghiệm trái phép trên người sống. Nhưng do những phát hiện mới mẻ vào thuở sơ khai của mình, Beaumont lại được vinh danh như là cha đẻ của ngành sinh lý học dạ dày.
3. Khởi nguồn môn thần kinh học từ việc giải phẫu bệnh nhân động kinh
Năm 1933, Henry Molaison khi đó là một cậu bé mới 7 tuổi bị tai nạn xe đạp. Cậu bị đập đầu rất mạnh đến mức khiến cho khoảng thời gian 20 năm sau là một cơn ác mộng với chứng bệnh động kinh.
Bệnh nhân Henry Molaison trong những thời khắc tỉnh táo hiếm hoi.
Sau nhiều năm phải chống chọi với căn bệnh quái ác này, Molaison cuối cùng đã tìm đến bác sĩ William Beecher Scoville.
Bác sĩ Scoville khi đó đã có thể tìm ra phần chấn thương bên trong não của Molaison, đó chính là vùng thùy thái dương.
Với những hiểu biết sơ khai về thần kinh vào thời kỳ đó, Scoville đã quyết định sẽ chữa căn bệnh của Molaison bằng cách bỏ phần tổn thương ở não của nạn nhân đi.

Về căn bản, đó thật sự là một ca phẫu thuật thành công khi chứng bệnh động kinh của Molaison đã thật sự được kiểm soát. Tuy nhiên, ca phẫu thuật cũng mang đến một tác dụng phụ không mong muốn.
Ca phẫu thuật khiến cho Molaison mất đi khả năng tạo ra những ký ức mới, do đã không còn thùy thái dương - bộ phận quyết định việc lưu trữ ký ức lâu dài của não. Molaison đã sống mãi với những ký ức thời trai trẻ của mình cho đến khi ông qua đời vào ngày 2/12/2008.

Bác sĩ William Beecher Scoville.
Tuy là một sự liều lĩnh đi ngược với các nguyên tắc của nghề y, nhưng ca phẫu thuật của Scoville và phát hiện sơ khai của ông đã làm sáng tỏ sự liên kết của những vùng riêng biệt của não với các hoạt động của con người. Từ đó chuyên ngành thần kinh học nghiên cứu về vấn đề này đã ra đời.

